THẦN TÍCH – THẦN PHẢ ĐỨC ĐẠI VƯƠNG THÀNH HOÀNG LÀNG HƯNG GIÁO

THẦN TÍCH – THẦN PHẢ

ĐỨC ĐẠI VƯƠNG THÀNH HOÀNG

LÀNG HƯNG GIÁO

(Trích lược cuốn Ngọc Phả và sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu viết về tiểu sử, thân thế, sự nghiệp của Ngài)

Đức Đại Vương Thành Hoàng làng Hưng Giáo. Ngài có tên là Nguyễn Huy, hiệu là Lão Quán, sinh ngày 10-2 âl, năm Nhâm Thìn 1052. Nguyên quán ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, Phủ Ứng Thiên, thuộc thành Thăng Long

Đương thời, Ngài sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà Nho nghèo thi lễ, có tiên tổ nối đời làm quan. Thân phụ là cụ Nguyễn Tuân chuyên nghề dạy học và làm thuốc. Thân mẫu là cụ Tạ Thị Hảo dòng dõi trâm anh. Một đêm, cụ bà trong giấc mơ chợt thấy một ngôi sao lớn lóe sáng, rùng mình tỉnh dậy kể với cụ ông. Cụ ông nói đó là điềm quý. Sau chín tháng mười ngày, vào đêm 10-2 âl trời mưa to gió lớn, cụ bà sinh hạ được một người con trai. Mặt mày khôi ngô tuấn tú. Trên trán có bốn chữ “Lão Quán Uy Linh”. Lại có ánh hào quang rực rỡ, có mùi thơm như hương trầm. Cụ ông biết là thần thánh ra đời, trong lòng yêu quý vô cùng. Đặt tên là Huy, hiệu là Lão Quán.

Khi ngài lên 3 tuổi, nghe thi thư thì hiểu ngay ý nghĩa. Năm 14 tuổi Ngài đã đọc muôn vàn sách vở, tinh thông văn chương, giỏi võ nghệ. Năm 23 tuổi (năm 1075), nghe tin quân Tống có âm mưu xâm lược nước ta, Vua Lý Nhân Tông lệnh cho Thái úy Lý Thường Kiệt thống lĩnh đại quân, ra chiếu chỉ tuyển mộ tướng sĩ, nhân tài ra giúp nước. Ngài đã đứng lên chiêu mộ quân binh, cả thẩy được hơn 200 người, cấp tốc đến công môn xin vào ứng thí. Khi ứng đối, Vua và các quần thần trong triều hỏi đến đâu Ngài trả lời thông tỏ đến đó. Từ thương thư, thiên văn hạ chí, địa lý đến kinh Phật, kinh Pháp. Vua rất hài lòng và khen ngợi. Phong cho Ngài làm Chỉ huy sứ chức Đại tướng quân.

Với chiến lược của Thái úy Lý Thường Kiệt chủ động tấn công sang đất Tống để tự vệ  (10/1075 – 4/1076) “ Ngồi yên đợi giặc đến không bằng đem quân đánh trước để chặn” (Tiên phát chế nhân). Ngài đem quân thủy bộ phối hợp với đại quân của Lý Thường Kiệt, tiến đánh các đồn trú của quân Tống ở Khâm Châu, Liêm Châu rồi hạ thành Ung Châu (Quảng Đông, Quảng Tây – Trung Quốc), phá hủy nhiều thành trì, nhiều kho lương của địch rồi chủ động rút về nước đóng quân. Cuối năm 1076, 30 vạn quân Tống tiến vào xâm lược nước ta. Dưới sự chỉ huy thiên tài của Lý Thường Kiệt, cánh quân của Ngài cùng với đại quân đã chiến đấu anh dũng, đánh tan quân xâm lược ở phòng tuyến sông Như Nguyệt lịch sử (năm 1077).

Đại quân ca khúc khải hoàn, Ngài được Vua thăng chức Tả Thị Lang tước Quận Công, ban cho cả song loan, áo mũ.

Hơn 6 năm làm quan trong triều, Ngài được thăng đến chức Lễ Bộ Thượng Thư. Nghĩ đến cha mẹ tuổi cao, sức yếu, Ngài quyết định dâng biểu tấu Vua xin cho được lui về để phụng dưỡng. Về quê được hơn 1 năm thì cả cha và mẹ của Ngài qua đời. 3 năm sau khi mãn tang, Ngài quyết định đi kinh lý, giải sầu.

Khi đi đến phường Hưng Giáo thuộc trang Đại Định, Ngài thấy vùng đất này sơn thủy hữu tình “…Vành trong tả hữu có tay rồng tay hổ ôm lấy, vành ngoài có nhiều gò to, gò nhỏ đều quay về..”. Cho đó là một nơi quý địa, thấy nhân dân tuy học thuật còn sơ sài nhưng cần cù, thật thà chất phác. Với tấm lòng thương cảm, quý mến phường Hưng Giáo. Ngài dâng biểu xin Vua cho lập thái ấp tại đây. Được Vua chuẩn y. Năm Đinh Mão – 1087, Ngài cho xây dựng nơi ở của Ngài cũng là chỗ dạy học cho nam giới (khu vực miếu thờ Ngài ngày nay)

Năm 1091, Ngài cho quy hoạch lại địa giới hành chính, đổi tên phường Hưng Giáo thành làng Hưng Giáo. Ngài cho xây dựng 4 cổng làng theo 4 hướng:

Hướng Đông là Cổng Dộc

Hướng Tây là Cổng Đình

Hướng Nam là Cổng Con

Hướng Bắc là Cổng Ỏi

Trong làng, Ngài cho mở mang khắp các đường ngang, ngõ dọc cùng hệ thống sông ngòi bao bọc xung quanh. Qua hơn 30 năm sống với dân làng Hưng Giáo, Ngài đã dạy cho con trai biết chữ, biết võ nghệ. Dạy cho con gái biết trồng dâu nuôi tằm, biết làm ren dệt vải. Dạy cho dân biết lấy canh nông làm vi bản. Từ đó, cuộc sống của nhân dân trong làng dần thêm ấm no, hạnh phúc.

Tiếng lành đồn xa, nhiều gia đình, dòng tộc ở nơi khác xin đến làng Hưng Giáo để ngụ cư đều được chấp thuận. Một hôm, trong buổi xum họp cùng nhân dân, gia thần, sĩ tử, Ngài có công tuyên bức chúc phó “….Ta để lại cho người dân Hưng Giáo cả cơ ngơi cung điện, nhiều mẫu ruộng đất tốt. Năm nén vàng tốt và đặc biệt là thi lễ – phú thứ. Gia phong kỷ cương, tình người…” Mọi người có mặt ai nấy đều cúi đầu lạy tạ, biết ơn. Ngài truyền “….Nay dân có hậu tâm với ta, thời phải trịnh trọng cái di mệnh của ta đến ức vạn niên về sau mà phụng sự ta, khi tế tự phải cung thỉnh đến Thánh Phụ, Thánh Mẫu ta cùng hưởng…”. Nhân dân ai cũng đẹp lòng tuân theo.

Phút chốc trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp, đất trời tối mờ, ban ngày như ban đêm. Xa xa nhìn thấy trong đám mây đen có áng mây vàng như dải lụa từ trên trời buông xuống, Ngài nhập vào đó rồi bay về phía Nam mạn núi Hương Tích. Lát sau trời quang, mây tạnh. Đó là ngày 20 tháng 11 năm Nhâm Dần (1122) Ngài hóa, hưởng thọ 70 tuổi.

Để tưởng nhớ công lao to lớn, Vua liền sắc phong cho Ngài làm Phúc Thần Lão Quán Linh Ứng Đại Vương, ra chiếu chỉ cho làng Hưng Giáo rước lấy mỹ tự về lập miếu tôn thờ.

Từ khi phụng thờ, thấy Ngài linh thiêng luôn hiển ứng linh phù, các bậc Đế vương đã ban nhiều Sắc Mệnh Chi Bảo ghi nhận, có đoạn viết “… đức của Thần do ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, các vì sao phú bẩm. Sự anh linh của Thần do đất trời chung đúc, che chở cho bốn cõi hưởng phúc lành…Thần ngầm giúp vận nước, giúp Thế tử được tiến phong ngôi báu…” Tổng có 25 đạo sắc phong (hiện còn lưu giữ được 21 đạo). Ban cấp cho làng Hưng Giáo sửa lại miếu, đình để phụng sự thờ tự. Thực là vẻ vang!

BAN QUẢN LÝ DI TÍCH

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *